 cái gì đâu. Mũi tôi còn đầy nghẹt mùi của phòng thí nghiệm nơi tôi đã phải trầy trật để theo kịp chúng bạn. 

Tôi dẹp cuốn sổ để đi tuần một vòng. Căn phòng kế cạnh thắp đèn sáng choang, nhưng lạnh tanh, thênh thang và không sinh khí. Nền phòng sạch bông, thoang thoảng mùi thuốc sát trùng. Ðằng kia là cánh cửa lớn mở ra lối cho xe chở xác chạy vào, cạnh đó là cái bàn đá có chân bánh xe, mặt bàn dài thượt. May mắn mà lúc này nó trống, được lau chùi sạch sẽ chờ lúc được sử dụng tới. Cái máy lạnh phát ra tiếng rù rì trầm trầm, chú ý mới nghe thấy. 

ở mé tay phải, giống như một tổ ong khổng lồ, là hàng hàng lớp lớp những ngăn kéo để chứa các xác chết trong khi chờ thân nhân đến nhận, hay sau cùng thì nhà nước bỏ tiền ra chôn làm phước. 

Ngăn kéo nào có xác đều được gắn thẻ, như thẻ hành lý trong kho trên máy bay hay tàu thủy. Thẻ được móc vào tay cầm của ngăn kéo. 

Tôi huýt sáo nho nhỏ, chỉ vì muốn tạo một âm thanh gì đó thôi, và bắt đầu kiểm tra những thẻ theo danh sách trong sổ mà tôi vừa xem qua và nhớ được. 

Tới gần ngăn số 14, tôi chợt khịt mũi 'A! cái mùi lưu huỳnh của lão Olaf đây !', tôi lẩm bẩm. 

Ði qua ngăn kéo ấy một bước thì tôi giật mình, ngoảnh đầu, rồi xoay cả người lại. 

Olaf đâu có ghi xác nào trong ngăn 14, nhưng mà có thẻ gắn ở ngăn này. Tôi cúi người tới, đưa tay ra, huýr sáo không thành tiếng nữa. Tôi cầm tấm thẻ lật qua lật lại. Một lần, hai lần, rồi ba lần càng lúc càng nhanh. 

Ðứng thẳng dậy, tôi gãi đầu một phát. Cả hai mặt thẻ đều trống trơn, chẳng ghi gì cả. Cha nội Olaf tuy già, nhưng đâu đến nỗi lẩm cẩm. Quên ghi tên người vào thẻ, lão chưa từng có vụ này bao giờ. 

Rồi tôi nhếch mép cười. Lão già này muốn đùa đây, tôi đâu dè lão cũng khoái giỡn như thế. Tôi lại huýt sáo được thành tiếng, nghe có vẻ tỉnh táo lắm, nhưng không có gì hay ho. 

Tôi nắm lấy tay cầm và kéo mạnh. Ngăn kéo vốn có bánh xe nên tuột ra cái rẹt. Tiếng huýt sáo của tôi chợt tắt ngúm. 

Một con nhỏ đang nằm trong đó! Tóc vàng, coi trẻ măng, và đẹp nữa, mặc dù đã chết. 

Tôi đứng nhìn cô ta mà nghe mấy ngón chân ngọ ngoạy trong đôi giày. Nét mặt cô thật dễ thương, làn da mịn màng như lụa. Ðôi mắt khép nhẹ như đang ngủ, bờ mi cong và dài, đen mướt. Cô mặc bộ đồng phục y tá. Món duy nhất cho tôi biết lai lịch chút ít của cô là tấm lắc dây chuyền ở cổ tay. Trên tấm lắc có khắc hai mẫu tự : Z.L. 

Tôi vội vàng quay đi, chạy ra phòng ngoài. Vồ lấy cuốn sổ trực, tôi lật vội ra xem. Tôi không muốn nghi oan lão Olaf. 

Tôi rà một lượt, ngớ người ra, rà lại lần nữa. Lật trang trước coi phần ghi chép hôm qua, và cả hôm kia nữa. Tuyệt nhiên không có ai được đưa vào ngăn 14 cả. 

Tôi chu mỏ, nhưng huýt sáo không nổi, và bước tới cửa vào phòng lạnh. Mé trên cửa có hai khung kiếng nên tôi có thể nhìn vào trong mà không cần mở cửa. Ngăn kéo 14 bị lôi kéo ra vẫn còn nguyên ở đó, và cô Z.L. tóc vàng vẫn nằm chầng vầng một đống như cũ. 

Tôi cẩn thận ngồi xuống ghế, rút khăn tay ra và lau trán. Hít một hơi dài, tôi nhấc phôn lên quay số của Olaf. Khi nghe tiếng chuông, tôi còn liếc lại cửa phòng lạnh. 

Giọng mụ vợ Olaf nghe ngái ngủ : 

- ồ, rất tiếc. Ông Olaf nhà tôi chưa về. - Rồi chợt giọng bà ta nghe tử tế hơn - Chờ chút, tôi nghe tiếng ông ấy mở cửa. 

Giọng Olaf vang lên sau tiếng đằng hắng : 
- Rồi, chuyện gì ? 
- Tully Branson đây, bác Daly. 
- Không có cái vụ trực thế cho you đi nhậu với bạn đâu à nghen ! 
- Không có đâu - tôi đáp - cháu chỉ muốn biết về cái cô trong ngăn 14. 
- Không có ai trong ngăn 14 hết, Tully. 
- Có mà, thưa bác. Một cô tóc vàng đàng hoàng. Trẻ và đẹp, chết uổng hết sức. Chắc bác nhớ ra hén, có điều bác quên ghi sổ nhập cho cô ấy. 

Tôi nghe tiếng bà Daly hỏi chồng chuyện gì đó, rồi nghe ông ta nói với vợ : 

- Chắc cái thằng Branson này đêm nay nó mang rượu vô đó uống quá! 

- Không có, bác ơi - tôi cự liền - Cháu khoái nhậu, nhưng không có mang rượu vô đây à nghen! Chỉ có chuyện cô tóc vàng ở ngăn 14 bác quên ghi sổ thôi ! 

- Ðời nào tui lại quên chuyện đó được ? 
- Có mà. Không tin bác ghé đây coi đi. 
- tui sẽ tới, con ạ ! Sai sót này lớn lắm chứ chơi đâu. 

Lão giộng ống nói xuống thiếu điều làm tôi thủng cả màng nhĩ. Còn tôi thì nhẹ nhàng đặt ống nói xuống, lấy bình thủy rót một ít cà phê ra, đốt một điếu thuốc, nhấp một ít cà phê, châm một điếu thuốc. 

Nhấp miếng cà phê nữa, cất bình thủy vào chỗ của nó, thò tay lấy gói thuốc, lúc đó tôi mới nhìn thấy mình đã châm hai điếu bỏ trên gạt tàn. Tôi mếu miệng cười, duị tắt một điếu để dành đêm khuya. 

Với bước chân khập khiễng, lão Olaf bước vào cứ như một con tàu đi trong giông bão. Ðáp lại ánh mắt trợn trừng của lão, tôi chỉ mỉm cười với tất cả sự chắc ăn mình có được, và mời lão vào phòng xác. 

Lão đi qua cánh cửa, tôi theo sát nút. Ngăn 14 vẫn còn kéo lòi ra ngoài ở đó. Lão chẳng cần đi tới nơi. Nhìn một cái, lão quay lại liền : 

- Branson - lão nói - tui mà còn trẻ là đập bể mặt you liền. you bắt một người già mệt nhọc nửa đêm tới một nơi hôi thối như thế này đó hả ? Vậy mà lâu nay tui cứ nghĩ you là thằng nhóc tử tế đó ! 

- Nhưng bác Daly ... 
- Không có 'nhưng' con mẹ gì cả ! Cái vụ này tui sẽ báo cáo ! 

Tôi trợn mắt nhìn ngăn 14 như thằng khùng. Cô ta vẫn còn đó, thù lù một đống. Tóc vàng, xinh đẹp và chết cứng. 

Olaf xô tôi qua một bên và bước đi. Tôi níu lấy tay lão. Tôi đúng là còn nhỏ tuổi, nhưng cũng đã mọc râu rồi. Tôi kêu lên : 

- Bác Olaf. Bác thấy mà. Cháu biết bác thấy mà ! 
- Bỏ cái tay ra nghe chưa ! - lão quát - tui thấy rõ ràng là cái ngăn kéo trống trơn, y hệt cái đầu óc của you vậy. 

Tôi cứ níu tay lão, không cho đi : 
- Cháu không có chịu giỡn kiểu này đâu ... 
- Thì tui cũng vậy - lão quát vào mặt tôi - Giỡn gì cà chớn ! 
- Thì bác coi kỹ cái ngăn đi, đừng giỡn nữa mà. 
- Thì tui đã coi rồi. Không có gì hết ngoài một thằng nhóc láo lếu dám bày trò thối tha là bắt một người già phải nửa đêm tới đây ! 

Lão giật tay ra và bước nhanh ra ngoài. Ðến cửa, lão quay lại, dứ dứ ngón tay về phía tôi : 
- Nè nhóc, tốt nhất là từ mai, you lo kiếm việc làm khác đi ! - và lão dông thẳng. 

Chương 2 



Tôi bước theo tới phòng ngoài rồi quay lại. Nhìn qua khung kính vào phòng xác, tôi lại rên lên khốn khổ. Cô nàng Z.L. vẫn nằm chình ình trong ngăn kéo 14. 

- Ðàng hoàng coi ! - tôi lầm thầm với cô ta - Tôi nhắm mắt rồi mở ra là cô phải biến mất à nghen! 

Tôi nhắm mắt, rồi mở ra. Vẫn y nguyên ! 

Tôi bước tới bàn rồi sụm xuống, nhưng cũng chẳng được lâu. Có tiếng chuông kêu ở cửa nhận xác, làm tôi muốn nhảy nhổm rồi vội vàng chạy qua phòng xác ra cửa. 

Smith và Macklin mở toang cửa xe chở xác, lôi một băng ca đặt một ông già ăn mặc tả tơi ra và đem vào đặt trên bàn đá. 

- Thằng chả lao ngay vào đầu xe tải. - Smith nói. 

- Không giấy tờ gì hết - Macklin tiếp - cứ ghi là John Doe. 

- Tèm lem quá hả, Branson ? - Smith nói trong khi tôi phủ tấm khăn lên xác chết, Smith rất khoái chọc tôi vì biết tôi yếu bao tử. 

- Phải à, - tôi liếm môi - còn đỡ hơn con nhỏ kia. 

- Nhỏ nào ? 

- Thì con nhỏ trong ngăn 14 chớ đâu ? 

Smith và Macklin nhìn lại ngăn kéo 14 nằm sau lưng tôi rồi hai ông nhìn nhau. 

- Tully - Macklin nói - Hôm nay có bệnh không đó ? 

- Bệnh gì đâu ? - tôi nghe mồ hôi trên trán muốn đóng băng lại. 

- Có mất ngủ hông ? Có gặp ác mộng hông ? 

- Ðâu có. - tôi đáp - Nhưng con nhỏ tóc vàng ở ngăn 14 ... Nếu không phải mấy ông đưa tới thì chắc hai cha Collins với Snavely làm ca ban ngày có thể cho tôi biết rõ hơn. 

Cả hai ông như dội ra, rồi Smith bật cười phá tan sự im lặng : 

- Người đẹp tóc vàng ngăn 14, ngăn của con mẹ phù thủy bữa trước ... Hay lắm, Branson ... tui hiểu rồi ! 

Macklin ngơ ngác nhìn bạn : 

- Tức là sao ? 

- Tức là - Smith đã ngớt cười - thằng quỷ Tully này ở đây một mình buồn quá nên bày chuyện xí gạt mình chơi đó mà, phải không, Tully ? 

Vậy là hai cha nội này cũng không nhìn thấy cô bé luôn. Nếu tôi cứ khẳng định hoài, chỉ tổ cho hai cha nội cười thôi, nên tôi cũng ráng cất lên tiếng cười hô hố. 

- Ðừng để xác thiếu lạnh nghe chưa ? - Smith thúc cùi chỏ vào sườn tôi, cười khành khạch rồi đi ra. Macklin nhìn tôi ngơ ngác rồi đi theo. 

Cửa đóng lại là tôi rầu thúi ruột. Lần đầu tiên trong đời, cảm giác chỉ có một mình trong nhà xác làm bao tử tôi teo còn một cục nhăn nhúm. Tôi đi vòng qua ngăn 14 cứ như đang đi trên một chiếc cầu bằng thủy tinh bắc qua một bờ vực. 

- Ði đi mà - tôi thì thầm với Z.L. - Cô đâu phải xác chết. Chỉ là một hình ảnh riêng một mình tôi thấy. Nên làm ơn biến đi giùm ! 

Lời nói của tôi chẳng hiệu quả gì, mà chỉ làm tôi hoảng thêm khi thấy mình lầm bầm nói chuyện với một thây ma. 

Trở lại bàn, tôi ngồi run rẩy một lát rồi chợt nghĩ ra. Có thể tất cả Olaf, Smith và Macklin đã thông đồng với nhau, có lẽ hai tay chở xác làm ca ban ngày đã mang cô Z.L. này tới, rồi cả ba toa rập để nhát ma tôi chơi. 

Cảm thấy an tâm hơn, tôi lấy điện thoại gọi cho Juđ Lawrence. Juđ là bạn của bố tôi, hiện làm cảnh sát điều tra ở đây. Chú ấy lúc nào cũng thiện cảm với tôi, và cũng chính là người giới thiệu cho tôi chỗ làm này. 

Chú ấy chưa về, ca trực của chú ấy tới 11 giờ mới xong. Tôi gọi lại sở cảnh sát và gặp được chú. 

- Chào chú Lawrence. Tully Branson đây ! 

- Có gì không, Tully ? 

- Cháu có chuyện, chú ơi. 

- Nói đi - chú ấy đáp ngay. 

- à ... sổ sách đằng cháu hình như hơi lộn xộn ... Có một cô gái ở đây, tóc vàng, làm y tá, tên tắt là Z.L. 

- Cháu phải gọi ông Olaf Daly mà hỏi chứ ! 

- Phải, nhưng làm sao tìm ông ấy được sau giờ làm việc, ông ấy luôn la cà quán xá. Giờ này mà gọi được ông ấy thì ông cũng nổi sùng lên cho mà xem. 

- Ðúng rồi - chú Juđ bật cười - Chi tiết về cô gái chỉ có thế thôi hả ? 

- Vâng. Cô ta có vẻ tử tế lắm. Kiểu người như vậy chắc sẽ chết bình thường và quàn tại nhà chứ đâu có bỏ trong nhà xác thế này. 

- ý cháu muốn nói là chết mờ ám ? - Juđ hỏi. 

- Cháu không rõ. Nhưng có lẽ chết trong tình huống đáng nghi. 

- OK, Tully. Ðể chú kiểm tra lại xem. 

- Cháu làm phi